Các nhà cung cấp dịch vụ quản lý: Chìa khóa dẫn đến dịch vụ cloud cho khách hàng

cloudFun

locking.jpg
Cloud computing luôn được biết đến ở khả năng tự phục vụ; chi phí hoạt động hiệu quả, giúp nhà đầu tư tiết kiệm một khoản chi phí đầu tư lớn; tính sẵn sàng cao và hơn hết là cho phép dùng bao nhiêu trả bấy nhiêu. Ngoài các công ty lớn đang dẫn đầu về đổi mới cloud như Dell, HP, IBM, AWS, Google, Vmware hay Microsoft, cũng có rất nhiều các công ty tư vấn cloud có giá trị hàng tỉ đô la. Ngược lại, các nhóm khách hàng muốn tiếp cận cloud lại không có đủ chuyên môn và chi phí cho các private hay hybrid cloud. Ngoài ra họ còn không được phép lấy ý tưởng từ các thiết kế, các cam kết chất lượng dịch vụ SLA hay các tuân thủ công nghiệp của những public cloud nổi tiếng như AWS, Google hay Azure. Chính vì thế, các nhà cung cấp dịch vụ quản lý (MSP) chính là giải pháp.

Dưới đây là một minh họa từ Gartner cho thấy một chu trình phức tạp của việc Môi giới dịch vụ cloud (CSB) – công việc chính của các MSP. Minh họa này cũng sẽ phân loại các CSB.


hình 2.png

Có thể nói CSB sẽ là định nghĩa cho một MSP khi mà công ty đó sẽ hoạt động dựa theo loại CSB mà họ đã chọn. Dưới đây là tổng hợp 3 danh mục chính của CSB, hoặc các dịch vụ được cung cấp bởi bất kỳ MSP lớn nào.


hình 3.png

Các MSP thông thường sẽ tập trung vào việc làm thế nào để đem đến cho khách hàng các dịch vụ công nghệ cloud– cái mà đang ngày càng phát triển. MSP cũng có thể trở thành các nhà môi giới, giúp đỡ khách hàng tiếp cận cloud, dưới danh nghĩa là các doanh nghiệp tư vấn cloud. Mặc dù MSP không tự phát triển các thiết kế nhưng các công ty này lại thường cung cấp các dịch vụ đem lại giá trị cao để cạnh tranh với các đối thủ khác. Ngay cả những công ty đi đầu về cloud cũng sẽ tìm đến MSP để bán lại công nghệ của họ, từ đó cho phép khách hàng có thể dễ dàng tiếp cận công nghệ mới. Đồng thời, một định nghĩa mới được sinh ra: Các công ty đi đầu về cloud mà tập trung vào cloud adoption, hay các MSP hoạt động bằng cách cung cấp dịch vụ cloud computing có thể gọi chung thành các nhà cung cấp dịch vụ cloud (CSP).

Tại sao khách hàng thường chọn CSP khi họ muốn phát triển cloud?
Hình 4.jpg

Minh họa trên cho thấy giá trị của việc đầu tư vào CSP, khách hàng có thể tập trung vào workload mà không phải lo đến hạ tầng (infrastructure). Không chỉ vậy,tận dụng CSP giúp khách hàng triển khai private hay hybrid cloud chỉ trong vài ngày và thậm chí có thể mở rộng nhanh chóng bằng việc sử dụng chi phí hoạt động. Các công ty đã quen với việc này khi nhận được các trải nghiệm cloud service đáng tin cậy và nhất quán từ các công ty hàng đầu trong lĩnh vực cloud.

Tuy tiềm lực giới hạn, nhưng các công ty ở Việt Nam có thể dựa vào những hình mẫu này để host các cloud service, hoặc tự trở thành một CSP và bắt đầu hành trình của riêng mình. Việt Nam cũng có thể là một CSB giúp các tổ chức tiếp nhận công nghệ cloud mới.

Một công ty CSP ở Việt nam trong lĩnh vực này nên sử dụng một nền tảng phần mềm để đơn giản hóa các dịch vụ, SLA và có thể cung cấp khả năng quản lý tập trung. Một điểm khác biệt quan trọng giữa các CSP là việc cung cấp một nền tảng phần mềm chung cho quản lý chu trình ảo hóa hạ tầng(infrastructure); cho các on-prem, hybrid hay public cloud.

Bảng dưới đây minh họa việc cung cấp các dịch vụ tổng hợp của một CSB thông thường.

Aggregation
Service CatalogsTổng quan của tất cả các dịch vụ được cung cấp. Dịch vụ sẽ được chia theo loại hoặc giải pháp.
Contract Terms & PricingMỗi dịch vụ sẽ liệt kê rõ ràng giá cả với các tùy chọn thời hạn hợp đồng
Licensing & BillingChi tiết việc mua, nâng cấp và cơ hội giảm giá các license nên được nêu rõ. Thông tin thanh toán sẽ cung cấp những dịch vụ được đăng ký cùng với các chi tiết thanh toán đi kèm (lịch sử mua và có muốn lên lịch cho các chu kỳ thanh toán tiếp theo hay không )
Delivery & ProvisioningMỗi dịch vụ sẽ cung cấp chi tiết về cách thức giao hàng và phương thức tiêu thụ dịch vụ; tức là thông qua phần mềm tải xuống & cài đặt và / hoặc phân phối thiết bị phần cứng (mua sắm, cài đặt & thử nghiệm và thiết lập trên trang web).
Tenant ManagementLà CSP, điều quan trọng là phải có cái nhìn tập trung và tóm tắt về người thuê và từng thông tin tài khoản của người thuê (đặc quyền đăng nhập, lịch sử thanh toán, lịch sử đăng ký và mọi thứ về người thuê như địa chỉ, thông tin liên hệ, thông tin doanh nghiệp có liên quan).
Governance & ComplianceCác dịch vụ nên có những điều khoảng và yêu cầu nhất định.
Policy Definition and SLAMỗi dịch vụ sẽ nêu các điều khoản cấp phép theo hợp đồng, hỗ trợ và chi tiết cụ thể về SLA cho người thuê (CSP so khách hàng).
Monitoring & ReportingMỗi dịch vụ sẽ có một hệ thống đo để giám sát mức tiêu thụ dịch vụ với tiêu chuẩn là số liệu được xác định trước trên hợp đồng. Sẽ có các giám sát và báo cáo về các thuộc tính của dịch vụ (nghĩa là lịch sử tiêu thụ so đối với khả năng cung cấp) cũng như các số liệu.
Alert & RemediationĐối với mỗi dịch vụ, sẽ có các thông báo được kích hoạt theo quy định được xác định trước (một phần của hợp đồng, SLA hoặc tùy chỉnh). Các thông báo và hành động mặc định sẽ được kích hoạt theo các chính sách hoặc điều kiện được xác định trước hoặc tùy chỉnh, tức là có thể kích hoạt cảnh báo khi mức tiêu thụ của khách hàng vượt quá ngưỡng 10% công suất giới hạn cho phép.
Theo như bảng trên, các dịch vụ tổng hợp được cung cấp bởi một CSP sẽ làm giảm đi gánh nặng cho các khách hàng mới nếu họ phải tự xây dựng một hạ tầng(infrastructure) cloud riêng ngay trong khi những thách thức kinh doanh khác vẫn hiện diện. Vì CSP có thể cung cấp nhiều hơn là chỉ trong bảng trên, các công ty này thường sẽ có được sự tin tưởng của khách hàng và từ đó tạo ra những mối quan hệ lâu dài . CSP tại Việt Nam trước tiên có thể giới hạn dịch vụ ở một vài thành phố, sau đó có thể mở rộng ra. Có một cách khác đó là xây dựng các dịch vụ tổng hợp dành riêng cho chính phủ, các ngành tài chính hoặc ngành bán lẻ.

Cơ hội để CSP cung cấp dịch vụ quản trị chỉ bị giới hạn bởi các công ty hàng đầu trong lĩnh vực cloud. Khách hàng sẽ có được trải nghiệm cloud khi làm việc với CSP, đóng vai trò là CSB và CSP sẽ dần tiến tới các cloud OEM leaders, đóng vai trò là người đại diện cho khách hàng. Đây là hệ sinh thái hợp tác giữa các cloud OEM leaders và CSP, và mối quan hệ khách hàng giữa CSP và khách hàng.

Nguyễn Trí Minh - Cloudfun expert
Principal, Strategic Alliance & Solution Architecture Consultant at Dell EMC
 
Top